Chỉ từ một cọng rơm này…

Cuộc cách mạng một cọng rơm ở Việt Nam được khởi đầu “nhờ” sự ngộ nhận. Chúng tôi nghĩ làm nông kiểu Fukuoka thật là dễ dàng. Khi nhận ra nó không dễ như mình tưởng, nhiều người bỏ cuộc. Những người chọn đi tiếp là chọn thay đổi chính mình để thích nghi, để “học cách làm việc cùng mẹ thiên nhiên, để bà dẫn đường, thậm chí để bà dẫn chúng tôi thay đổi luôn cả mong muốn của mình.”

Cuốn sách Cuộc Cách Mạng Một Cọng Rơm (sau đây gọi là cuốn Rơm) được XanhShop dịch và xuất bản vào năm 2015. Nó đã truyền cảm hứng cho nhiều người và góp phần thúc đẩy dòng chảy từ phố về quê. 10 năm vừa qua là hành trình đi từ Ngộ nhận, qua Sai lầm, sang Vỡ lẽ, đến Chuyển hóa của chúng tôi.

Trên bìa cuốn Rơm bản tiếng Anh là bức tranh vẽ một bàn tay vo lại như một nắm đấm, giữ trong tay một lá cờ và một cọng rơm. Nhưng cuộc cách mạng của Fukuoka thì không có nắm đấm, cũng chẳng có cờ mà chỉ có một cọng rơm. Ông khẳng định: “Chỉ từ một cọng rơm này, một cuộc cách mạng có thể bắt đầu.”

Đây là lược đồ hiển thị thành phần đất tốt nhất trên thế gian này. Trong đó, 45% là khoáng chất do ​​đá mẹ phong hóa mà thành, không khí và nước mỗi loại chiếm khoảng 25% biến thiên. Thành phần quan trọng nhất là chất hữu cơ và sinh vật sống, chỉ chiếm 5%.

Lần đầu nhìn thấy lược đồ này, tôi đã nghĩ 5% là chuyện nhỏ. Tuy nhiên, tôi sớm nhận ra rằng đó là một việc đơn giản nhưng không hề dễ dàng, vì nó đòi hỏi nguồn cung cấp liên tục, bởi tất cả vật chất đó sẽ liên tục được chuyển hóa. Đó là lý do nhân loại không thể tạo ra loại đất này mà chỉ có thể tìm thấy nó giữa một khu rừng nguyên sinh – một vòng tuần hoàn khép kín tại chỗ.

Cấu trúc đất “hoàn hảo” chỉ có thể tìm thấy ở giữa một khu rừng nguyên sinh.

Chúng ta dễ dàng bỏ qua 5% nhỏ nhoi ấy để nhắm đến 95% còn lại. Nếu muốn khoáng chất, chúng ta bón phân hóa học; nếu muốn không khí, chúng ta cày xới; nếu muốn độ ẩm, chúng ta tưới nước.

Nhưng nông nghiệp tự nhiên của Fukuoka là nông nghiệp vô-vi. Vô-vi không phải là không-làm-gì-cả, mà như con thuyền xuôi nước, xuôi gió nên không-cần-làm, như 5% nhỏ bé kia kích hoạt 95% còn lại. Vì lẽ đó mà “một cọng rơm có thể khởi đầu một cuộc cách mạng”.

“Tôi mất 30 năm để đạt đến sự đơn giản đó” Masanobu Fukuoka

Hữu-vi và bỏ mặc

Tuy nhiên, “trong việc tìm cách quay trở về với tự nhiên, người ta không hiểu rõ tự nhiên là gì, và vì thế nỗ lực ấy là vô ích.”(*)

Chị Đỗ Tú Thảo, sinh năm 1983, xã Kim Lập, huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình bộc bạch: “Thấy dổi có giá, tháng 7-2021 chúng tôi bỏ 100 triệu cắt băng triền đồi 3,5ha mới thu keo; xây 1 bể nước 100m3 trên đỉnh đồi, mua 100 triệu tiền cây giống về trồng ngay mùa khô hanh. Trồng xong, trên cái nền đồi trơ trọi vừa san gạt ấy, gieo đậu tương cho tốt đất. Rồi kéo nước cách 500m lên đỉnh đồi để tưới mà nó cũng không lên.

Ra Xuân, hì hụi trồng 5000 cây chuối tiêu hồng, có 5000đ/cây giống, nhưng tiền mua máy bơm, lắp hệ thống tưới, thuê người chăm chuối nữa thành 300 triệu. Khi chuối bắt đầu ra buồng, hớn hở lắm, chuối Tết rẻ cũng 150.000/buồng. Năm ngoái 500.000/buồng. Ui lãi to! Nhưng trồng nhiều thì nó bệnh, lại tốn 30 triệu cho giải pháp vi sinh, nhưng thất bại. Rồi trồng đậu đen, đậu xanh xen với chuối cho tốt đất. Ôi chao, công làm cỏ tay mỗi lần 14-15 triệu. Đậu chín rải rác, mỗi ngày đi một vòng đồi hái được vài cân.

Một năm hì hụi ủ phân trâu, làm cỏ, tưới chăm chuối. Rồi bão đến đổ như rạ. Năm sau lại học được trò chặt cây chuối làm đôi, phủ đất. Ôi tốn đâu chục triệu thuê người chặt cây phủ đất chứ 5000 cây sức tôi đâu làm được.

Rồi tôi trồng cỏ Mombasa. Tháng nào không cắt thì không vào vườn nổi. Sau 1 năm tốn 50 triệu công cắt cỏ, lại tốn 25 triệu để đào cỏ đi. Hết tiền, hết sức, mất niềm tin, tôi ngồi yên.

Ngồi yên rồi mới thấy những chỗ tôi không động vào, những cây gỗ tạp to như thùng sơn đường kính 30cm. Chồng tôi bảo “bán củi còn được hơn keo”. Mùa mưa vừa rồi, xoan tự mọc cũng được 30-40 cây.”

“Câu hỏi đầu tiên cần phải đặt ra là cây-gì-mọc-ở-đây chứ không phải trồng-gì-ở-đây.” Masanobu Fukuoka

Anh Bùi Anh Tuấn, sinh năm 1986, ở Đà Loan, Đức Trọng, Lâm Đồng kể lại: “Năm 2016 tôi ngưng toàn bộ phân và thuốc hoá học cho vườn, ngưng cắt cỏ luôn; cỏ tranh, cỏ lào phủ lút cà-phê. Cộng thêm năm đó hạn khủng khiếp, năng suất cà-phê giảm từ 7 tấn xuống còn 3 tấn.

Để cứu vãn tình hình, tháng 2 năm 2017, ngay cao điểm mùa khô, tôi trồng sao đen và cẩm lai xen khắp vườn gần 3ha. Mỗi buổi sáng, thức dậy sớm tưới từng cây, nhưng 10 cây chết 8. Vườn cà-phê vẫn tiếp tục xấu đi.

Trước đó, tuy là vườn độc canh nhưng những cây cà-phê rất xanh tốt. Mùa thu hoạch vác cà-phê trĩu vai. Và tôi đã khiến khu vườn tâm huyết của ba mẹ trở nên tan hoang.”

Fukuoka làm nông nghiệp vô-vi, chúng tôi thì hoặc là quá hữu-vi, hoặc là bỏ mặc. Và chúng tôi cứ thế, vừa đi vừa học bài học của mình.

Anh Tuấn chia sẻ “Để có nguồn thu ngắn hạn, tôi trồng xen chuối khắp vườn cà-phê. Chuối lên tới đâu, vườn mát tới đó. Hai năm sau, 2019, tôi trồng cây rừng dưới tán chuối, 10 cây sống được 9 cây. Việc có ích nhất tôi có thể làm là tăng hàm lượng hữu cơ trong đất lên 5%. Xen đủ thứ cây với mật độ dày một chút khiến mưa nhiều hơn hay nắng nhiều hơn cũng đều tốt cả. Hiện nay, khoảng 80% diện tích vườn có xen cây rừng, tầm hơn 20 loài. Có nhiều cây rừng tái sinh từ những gốc mà mình ngỡ đã chết từ lâu. Những cây này lớn nhanh vượt trội cây mình trồng. Biết chậm lại để vườn-làm thì còn nhanh hơn là mình làm-vườn.

“Việc có ích nhất tôi có thể làm là tăng hàm lượng hữu cơ của đất lên 5%”. Bùi Anh Tuấn

Tôi đã từng nghĩ nếu ưu tiên làm giàu hệ sinh thái thì mình sẽ có ít cái để thu hoạch. Điều đó đúng vào mấy năm đầu. Từ năm thứ 5 trở đi, tôi choáng ngợp vì sự hào phóng của tự nhiên. Nguồn thu nông sản ngoài cà-phê là chính thì bơ, chuối vốn nghĩ là món phụ và khó có ăn trên đất đồi nay lại sum suê “dễ” đến lạ thường. Tổng năng suất của một khu vườn rừng lớn hơn nhiều lần so với vườn độc canh. Mẹ tôi đi từ can ngăn không cho trồng chuối xen cà-phê vì sợ rợp, sợ lá quệt hoa cà-phê khó đậu trái … đến giờ mẹ đã công nhận chỗ nào có cây che bóng thì cây cà-phê xanh bền hơn.”

Anh Chế Đình Nguyên, sinh năm 1970, ở Đắc BukSo, Tuy Đức, Daknong chia sẻ: “Năm 2017, tôi mua đất theo cảm tính để làm nông nghiệp sạch theo hướng độc canh. Càng làm càng lỗ: lỗ vốn, lỗ sức khỏe, lỗ tình cảm với gia đình… Năm 2022 mới gặp “cọng rơm”, sau khi được học về “lát cắt rừng” thì tôi biết một miếng đất như thế nào thì phù hợp để vừa canh tác, vừa làm nơi ở; tôi hiểu ra chỉ có rừng mới phục hồi lại lớp mùn cho đất hiệu quả nhất, mới giữ được nước hiệu quả nhất; rừng là vành đai phòng hộ tốt nhất cho khu vườn và là của để dành của mình khi về già. Do vậy, trên diện tích 7ha, tôi dành 40% để phục hồi rừng. Trong phần 60% canh tác tôi cũng xen nhiều cây gỗ, cây họ đậu để cắt tỉa tạo sinh khối tại chỗ cũng như chắn gió.”

Cũng vì sự nhận ra “rừng là giải pháp”đó mà khoảng 5 năm trở lại đây, trong dòng chảy làm vườn rừng, xuất hiện dòng chảy phục hồi rừng.

Mỗi cái cây trên bản đồ này đánh dấu một khoảnh rừng đang thành hình. Đoàn công tác của Hội chủ rừng Việt Nam (HCR) do ông Hứa Đức Nhị, cựu Thứ trưởng Bộ NN&PTNT làm trưởng đoàn, cuối năm 2024 đã đến thăm một số chủ rừng và kết luận:

Mỗi cái cây trên bản đồ này đánh dấu một khoảnh rừng đang thành hình.

“Có một xu thế sinh sống và sinh kế theo triết lý từ cuốn sách “Cuộc cách mạng một cọng rơm” đang hình thành và phát triển. Nội dung cơ bản của xu thế này là: Sinh kế tổng hợp từ khu đất, không dùng hóa chất trong canh tác, canh tác thuận tự nhiên, nhịp sống chậm đi, sống đơn giản hơn. Với rừng: xu thế làm rừng thuận tự nhiên, chuyển hóa rừng-trồng hay cây lâu năm thành rừng tự nhiên có giá trị cao hơn, phát triển cây dưới tán rừng. Đã có những mô hình chuyển hóa thành rừng tự nhiên khá ấn tượng, có xu thế phát triển tốt”.

Xu hướng “làm rừng tự nhiên” này tập trung phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng, chi phí thấp hơn, trong khi chỉ số đa loài lại cao nhất. Nếu cần trồng thêm gì thì trồng cây tiên phong mọc nhanh “làm mát đất” (*) để tạo điều kiện cho cây tái sinh.

Những khoảnh rừng này có diện tích từ vài trăm mét vuông đến hàng ngàn ha, gồm nhiều loại đất, có cả đất cây hằng năm, đất nương rẫy, thậm chí đất ở nông thôn. Một xu hướng “biến đất nhà thành đất rừng” hình thành.

Anh Nguyễn Minh Hải, sinh năm 1966, xã Ia Phang, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã dưỡng rừng từ 7ha nương rẫy. Khu rừng 20 năm tuổi của anh là nguồn cảm hứng cho nhiều người muốn đi theo hành trình làm vườn rừng. . Nhưng nhìn từ Google Earth, khoảnh rừng của anh mong manh như cục nước đá trong ly nước nóng, bởi xung quanh đều là rẫy độc canh. Và đó là tình thế chung của nhiều khoảnh rừng khác. 

Khu vườn bên trong

Anh Hải chia sẻ “Có người hỏi tôi “việc dưỡng rừng có khi mình già mình chết rồi mới có kết quả, vậy ông dưỡng rừng hết thì ông ăn cái gì?” Con người thường mong muốn đạt được những thành quả tức thì ngay trước mắt. Tôi không hẳn là không có gì trước mắt, chỉ là không nhiều như người ta. Và nếu mình điều chỉnh lối sống thì vẫn ổn.”

Quả vậy, trong dòng di dân từ-phố-về-quê này, nhiều người đã quay lại phố. Những người còn ở lại là những người chịu thay đổi chính mình để thích nghi với lối sống mới. Anh Hồ Cao Đức Quân, sinh năm 1994, xã Eah’leo, huyện Eah’leo, tỉnh Daklak là một ví dụ: “Về làng, tôi mới nhận ra rằng suốt 27 năm cuộc đời, kỹ năng sống của mình quá kém. Đó cũng là động lực khiến tôi 5 năm vừa qua tận hưởng từng ngày, từng giờ để học dựng nhà, làm mộc, đào giếng, phụ hồ, làm bếp đất nhà đất, học thả lưới, bẫy tép, đào củ rừng, tìm cây thuốc, rau rừng, học nấu ăn, chế biến đồ vườn, học dùng dao, mài dao, đan gùi đan giỏ, rồi cả cách tìm mạch nước ngầm, đốt than, lọc nước… Và vô vàn bài học mà tôi vẫn đang tiếp tục học.” 

Vợ chồng Quân “tốt nghiệp” lớp gói bánh chưng, bánh tét.

Ngoài kỹ năng sống như Quân kể trên, “dệt” mình vào cộng đồng là một thử thách khác cho những người chọn về quê, nhưng phần thưởng cũng thật xứng đáng. Chị Nguyễn Thuỷ Tiên, sinh năm 1983, ở phường 11, tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tâm đắc “Mình có cộng đồng gần để nương tựa lẫn nhau, có thể trao đổi mọi thứ không dựa trên tiền. Mình chăm chút cho cộng đồng, cộng đồng dung dưỡng mình. Khi thiên tai, mỗi gia đình đều tự chủ được một số thứ, hợp lại cả cộng đồng chỉ trao qua đổi lại vẫn đủ đầy thực phẩm, củi lửa.”

Và “giải pháp duy nhất là con người phải quay trở lại đúng vị trí của mình bên trong tự nhiên” (*) như anh Jack de Bruijn, sinh năm 1983, kỹ sư cơ khí, người Hà Lan, lấy vợ Việt, đang ở xã Eah’leo, huyện Eah’leo, tỉnh Daklak đã nhận ra: “ Tôi lớn lên trong văn hoá phương Tây, nơi dạy chúng tôi phải uốn nắn thực tại theo nhu cầu và mong muốn của mình. Mọi thứ đều là một vấn đề cần được giải quyết. Chúng tôi phải “chiến đấu” với thiên nhiên để lấy từ bà ấy những gì mình muốn. Và lúc nào cũng có một điều mới để muốn, vì tâm trí chẳng bao giờ yên.

Khu rừng đang hình thành của tôi và công việc tôi làm trong đó đã khiến bài học ấy trở nên khiêm tốn hơn nhiều. Tôi không đủ mạnh để cạnh tranh với thiên nhiên. Và tôi cũng không muốn dùng công nghệ của con người để đối đầu với thiên nhiên. Vì vậy tôi phải học cách làm việc cùng bà ấy. Để bà dẫn đường, hoặc để bà dẫn tôi thay đổi luôn cả mong muốn của mình.

Tôi không cắt cỏ để giữ đất trống; tôi trồng cây tạo bóng râm khiến cỏ tự lui. Tôi không san phẳng đất mà dùng chính những đường nét tự nhiên để dẫn dòng nước. Tôi thậm chí xây nhà mình quanh một tảng đá lớn, thay vì đập vỡ rồi khiêng nó đi. Tôi không còn phải nhìn mọi thứ như một vấn đề cần giải quyết nữa. Rất thường xuyên, điều tốt nhất cần làm là không-làm-gì-cả.”

Và sự nhận ra đó cần một tiến trình, như anh Hải chiêm nghiệm: “Không phải trong chốc lát mà một người nông dân trở thành người dưỡng rừng. Cũng không phải trong một sớm một chiều mà một mảnh đất nông nghiệp độc canh trở thành một khu rừng đa tầng tán. Đó là một quá trình thay da đổi thịt, thay tâm đổi lòng. Một hành trình 20 năm, và vẫn đang tiếp diễn. Một cuộc trưởng thành song song và đan xen vào nhau, của khu rừng và người dưỡng rừng.

Ban đầu, tôi trồng rừng để mưu sinh. Giờ người ta hỏi mua xoan nhưng tôi không bán vì nếu khai thác xoan thì cả hệ thống rừng tôi dưỡng gồm căm xe, kơnia, giáng hương, cùng nhiều loài khác tôi còn chưa biết tên, sẽ bị hỏng. Mục đích kiếm tiền đã phai nhạt. Tôi thấy niềm vui trong việc dưỡng rừng này lớn hơn. Nếu không có khu rừng này thì ý nghĩa cuộc đời tôi sẽ giảm đi rất nhiều.”

Cánh đồng xã hội

Hoạ sĩ Bút Chì – người vẽ bìa cuốn Rơm ví von: “Mình không có đất, chẳng có rơm, chỉ có một mảnh vườn hoang trong đầu và một thửa ruộng bé trong tim; mọi thứ đều có thể là rơm – kể cả chính mình.”

Và nhiều người Sài Gòn khác, giống như anh, đã góp những cọng-rơm của mình vào cánh đồng chung: anh Nguyễn Minh Tâm – kỹ sư sửa chữa máy bay, chị Trịnh Thị Thu Hương – quản trị hệ thống bảo dưỡng máy bay, anh Đỗ Quốc Tuấn – kỹ sư viễn thông, chị Trịnh Hoàng Kim Phượng – dân marketing chung tay dịch cuốn Rơm; dịch giả Phương Huyên liên hệ bản quyền; MC Minh Châu, chị Bùi Linh Chi, giọng đọc Trần Vĩnh Trọng, nhạc sĩ Hồ Tiến Đạt cùng ACE media và Xuân Thị cùng Fonos làm sách nói.

Năm 2016, nhóm độc giả của cuốn Rơm chạm mốc 10.000 người, những người thực hành tìm chuyên gia về nông nghiệp bền vững để học hỏi. Khi chúng tôi hỏi anh Dương Quảng Châu – người đã có hơn 20 năm kinh nghiệm sống và làm việc với đồng bào miền núi, hiện cũng là một người làm vườn rừng ở Bà Rịa – Vũng Tàu: “Anh tính phí đào tạo như thế nào?”, anh trả lời: “Tôi không bao giờ tính phí cho những gì tôi đã học được từ đồng bào miền núi trong hơn 20 năm qua. Đó là một món quà, tôi chỉ tiếp tục trao tặng”.

Từ đó, những buổi chia sẻ về đất, về rừng, về ứng dụng những khuôn mẫu tự nhiên vào khu vườn được tổ chức miễn phí ở bất cứ nơi nào có người muốn nghe. Mọi người lần lượt mở cửa nhà mình ra đón nhau, chủ nhà có gì thì đem ra mời, khách có gì góp nấy, sản vật có gì nhiều thì chia nhau đem về. Nhà có việc thì khách cùng làm. Chúng tôi học cùng nhau và học từ nhau, ai biết gì dạy nấy. “Nông dân nào cũng là giáo sư, vườn là giáo trình”.

Ngoài những cuộc họp Rơm offline, còn có họp online. “Có vô số việc cần làm để phục hồi rừng. Tôi tìm được chỗ trống để điền mình vào, và thấy mình có ích.” Anh Nguyễn Trung Dũng – người chủ trì các buổi trao đổi trực tuyến cho Rơm chia sẻ.

Chị Lê Thanh Phương, sinh năm 1991, ở Hoà Hưng, Sài Gòn “Với tôi, thuận tự nhiên là lối sống hơn là nơi sống. Nó là những lựa chọn nhỏ hàng ngày: ăn gì, dùng gì, mua từ ai. Tôi chọn kết nối trực tiếp với những cọng-rơm và kiên định làm một “đầu ra tử tế” vì tôi tin người làm ra nó. Niềm tin ấy được nuôi bằng sự minh bạch, bằng cách họ sống, cách họ chọn làm nông và kinh doanh một cách tối giản. Khi có con, tôi càng có thêm động lực: tôi muốn con mình có một “ngôi làng”, nơi có bánh cô Yến, bơ điều cô Vy, rau vườn bác Linh, chợ phiên có anh Rơm. Không phải ai cũng cần trở thành nông dân, nhưng ai cũng có thể trở thành một người tiêu dùng đồng cảm.”

“ai cũng có thể trở thành một người tiêu dùng đồng cảm.”

Chợ phiên mà chị Thanh Phương nhắc đến do chị Lại Hồng Vy, sinh năm 1991 ở Tân Phú, Đồng Nai khởi xướng từ 8 năm nay. Phiên chợ được tổ chức ở Sài Gòn, theo mùa, với những sản phẩm vườn trồng được, nhà làm được. Chị Vy chia sẻ: “Hai tiêu chí chính của phiên chợ là bán đồ không sử dụng hóa chất trong canh tác, chế biến, và bán đong. Phiên chợ giúp chúng tôi kết nối trực tiếp với khách hàng của mình, để họ biết rõ những món họ mua, và cũng là dịp các anh chị em bạn hàng mong chờ để gặp gỡ nhau.”

Ngày nay, đi dọc Việt Nam, mỗi 15 phút đến 3 giờ lái xe, ta có thể gặp một cọng Rơm hoặc một bó Rơm – đa phần họ từ-phố-về-quê – đang trực tiếp làm nông, đang phục hồi rừng hoặc làm nhiều nghề khác.

Quanh họ, những cộng đồng địa phương – những người truyền dạy kỹ năng và nâng đỡ cả tinh thần và vật chất cho những cọng-rơm ngơ ngác ngày nào – vẫn đang dệt tiếp các mắt xích, giúp những người trẻ vững bước trên đường về… 

10 năm nhìn lại, cuốn Rơm là một duyên cớ để bắt đầu hành trình trở về với tự nhiên của nhiều người, nhưng động cơ nội tại của mỗi người mới quyết định họ đi tiếp như thế nào. Ở phố, ở vườn, hay ở rừng cũng đều tốt cả. Bởi “mục đích tối thượng của việc làm nông không phải là trồng cây, mà là sự tu dưỡng và hoàn thiện con người.” (*) Và ai cũng có thể góp cọng-rơm của mình.

(*) trích lời Masanobu Fukuoka

“Mục đích tối thượng của việc làm nông không phải là trồng cây, mà là sự tu dưỡng và hoàn thiện con người.” Masanobu Fukuoka

Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần – Hằng Mai

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang
Scroll to Top