Giới trẻ và chọn lựa lối sống mới: Từ phố về quê

Tôi thuộc thế hệ sinh ra sau năm 1975. Lứa chúng tôi được trải nghiệm cuộc sống thành thị sau chiến tranh, cái gì cũng thiếu thốn: thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả nước sạch để xài… Lũ trẻ con khu phố tôi ngoài việc học hành, làm việc nhà thì đều phải “lo việc nước”: xếp hàng lấy nước, khiêng nước, chở nước… Làm sao thì làm, miễn có đủ nước cho cả gia đình sinh hoạt. Có lần tôi hỏi bố: “Nếu lại có chiến tranh, mất điện, mất nước thì làm sao sống hở bố?”. Ông bảo: “Thì về quê!”. Ra vậy, cứ chiến tranh thì về quê, thì vào rừng. Mấy nơi ấy mới có cái mà xơi, mới có nơi mà trú ẩn. Thời bình thì người ta cứ kìn kìn phá rừng, bỏ quê ra phố. Tôi cũng như bao người trẻ khác, chỉ biết đến quê vào những dịp hè, khi có cơ hội thì đều muốn ở phố. Từ nông thôn ra thành phố. Từ thành phố nhỏ sẽ chuyển ra thành phố lớn. Từ thành phố lớn sẽ muốn đến thành phố siêu lớn. Nông thôn cứ thế “rỗng” dần!

Nhưng vài năm trở lại đây, tôi chứng kiến một “lạch” di-dân-ngược từ-phố-về-quê. Nhỏ thôi, nhưng đây đang là một dòng chảy tồn tại song song với dòng di dân chủ-đạo từ-quê-ra-phố. Quan sát dòng chảy từ-phố-về-quê, một cách chủ quan, tôi thấy có thể tạm chia làm 5 nhóm:

Nhóm 1: làm nông như một cách để giải tỏa tâm lý.

Nhóm 2: làm nông như một thú vui.

Nhóm 3: làm nông như một cách kiếm sống.

Nhóm 4: làm nông như một lối sống, tự cấp tự túc tối đa.

Nhóm 5: không chỉ làm nông như một lối sống mà còn có hàng hóa đưa ra thị trường.

Nhóm 1 và nhóm 2 chiếm đại đa số. Nhóm 3 khá đông. Thành công cũng có, nhưng tỉ lệ thất bại cũng cao.

Nhóm 4 đang nhiều dần lên. Những bạn có gia đình ở nông thôn bắt đầu bỏ việc về sống với gia đình, và làm việc trên chính mảnh vườn của gia đình thay vì đi kiếm việc làm. Một khi đã có đất đai và có người lớn trong nhà làm nông, lại sẵn lòng tạo điều kiện cho bạn làm nông thì đây là một lựa chọn an toàn nếu bạn thật sự thích cuộc sống ở nông thôn. Việc tự cung tự cấp với người “biết đủ là đủ” thì không khó lắm. Áp lực lớn nhất khi sống theo lối này là phải nghe những điều “người ta nói”.

Nhóm 5 hiện ít người nhất. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có một số người thuộc nhóm 5 phát triển từ nhóm 3 và nhóm 4. Có người bắt đầu với kiếm sống, sau đó coi nông nghiệp thuận tự nhiên là lối sống của mình. Có người bắt đầu với lối sống và cần học thêm các kỹ năng khác để có thể đưa sản phẩm ra thị trường.

Chúng ta cùng gặp một số nhân vật thuộc nhóm 4 và nghe câu chuyện của chính họ.

———————————

BÙI BẢO TRANG (sinh năm 1993, Hà Nội) 

Mình mở cửa hàng Nhặt lá đá ống bơ được bốn năm. Mình học nhuộm chàm từ mẹ của bạn mình là người Mông, học bằng cách cô làm gì thì mình làm đấy, cô bảo mình làm gì thì mình làm đó. Việc nhuộm chỉ làm trong 2-3 tiếng một ngày, còn lại mình giúp việc nhà: băm rau cho lợn, tẽ ngô cho gà, nhổ cỏ, bẻ ngô, hái rau… Nhà cần giúp việc gì thì mình làm việc ấy. Mọi người sẽ rủ đi làm cùng, việc gì cũng rủ nhau. Mình làm được đến đâu thì làm. Người ta không quan trọng năng suất của mình đâu, chỉ cần cùng nhau làm là được.

Từ những ngày đầu tự thử nhuộm vải đến bây giờ là một hành trình thật dài, nhưng dù mỗi ngày đều lặp đi lặp lại các việc giống nhau, mình vẫn học thêm được nhiều điều mới. Mình tự làm từ công đoạn giũ vải, nhuộm rồi may sản phẩm, gần đây thì tự trồng một phần nguyên liệu và dệt. Mình nghĩ nếu không làm từ đầu đến cuối như vậy thì không thể hiểu và giải quyết các vấn đề mình gặp phải. 

Mọi người thường hỏi vì sao mình không làm nhiều và nâng quy mô lên, nhưng Nhặt lá… giống như một việc mình làm cho bản thân hơn. Thu nhập của mình ở mức tối thiểu, vừa đủ chi trả các sinh hoạt phí. Mỗi tháng mình chỉ tiêu hết 2-2,5 triệu đồng, kể cả tiền thuê nơi bán đồ ở Hà Nội. Bù lại, mình có nhiều thời gian ở gần thiên nhiên, lắng nghe thiên nhiên và suy nghĩ về bản thân, về những điều mình thực sự mong muốn. Mình nhận ra mình gần như không có nhu cầu mua sắm thêm gì, không cần dùng nhiều tiền nên đã quyết định rời thành phố đến các nông trại để tự trồng rau ăn, tự chăm chút cho cuộc sống của bản thân. Mỗi hai tháng mình mới về Hà Nội một lần. Sau này nếu hợp nơi nào, mình sẽ ở đấy hẳn, trả lại nhà thuê ở Hà Nội. 

Bạn mình vẫn mắng mình bán đồ nhuộm chàm rẻ quá. Nhưng mình không nỡ bán cao giá. Mình muốn bán cho những người có lối sống giống mình. Giả sử các bạn làm vườn, làm các việc không ra nhiều tiền mà cần dùng đến các đồ như thế này, nếu giá cao quá thì các bạn ấy không có cơ hội được sử dụng. Bạn mình lại bảo: “Như vậy không tương xứng với giá trị của đồ thủ công”. Mình nghĩ giá trị của đồ là ở người làm. Người ta cảm thấy bao nhiêu là xứng đáng thì được rồi.

Những món đồ chàm mà Trang nhuộm.

Mình hi vọng được sống trong một cộng đồng mà mọi người đều tự làm một thứ gì đấy, tự trồng trọt, chăn nuôi, tự làm nội thất, đồ gia dụng, làm quần áo… rồi chúng mình đổi đồ cho nhau. Hồi đầu năm, khi ở một nông trại, mình hay sửa quần áo cho các cô các chị ở đây, đổi lấy trái dứa ăn, quả nhỏ xíu mà ngon xuất sắc. Thời gian vừa rồi, mình phụ một người bạn sửa nhà, mình đổi công, bạn nuôi mình ăn… Mọi thứ nhắc mình nhớ là trước khi có máy móc, tất cả đều được làm ra bằng đôi bàn tay con người. Nên gần đây Nhặt lá đã nhận đổi sản phẩm với những thứ các bạn hoặc gia đình các bạn tự làm. Mình rất háo hức khi đổi được xoài, lạc, mơ muối, rong biển, được cả hai quyển sách mà mình đã tìm từ lâu. Và hi vọng có thể gặp thêm được nhiều bạn cùng đường, nhiều điều thú vị mới trong hành trình đổi đồ này. 

———————————

VŨ CÔNG DÂN (Sinh năm 1992, KIM SƠN, NINH BÌNH, NINH BÌNH)  

Tôi từng có quãng thời gian sống và làm việc 3 năm ở Nhật. Trước khi về nước, tôi đặt câu hỏi “khi về mình sẽ làm gì?”. Anh bạn rất thân của tôi bên Nhật khuyên: “Em hãy dành một hai năm tìm công việc mà em thật sự yêu thích, việc đi làm sẽ giống như đi chơi, như anh em mình hay đá banh thôi!”. Mọi người hay khen tôi có duyên bán hàng nên khi về nước, tôi chọn công việc bán hàng ở Hà Nội để thử sức. Sau một năm bán hàng ở Hà Nội, tôi nhận thấy cuộc sống ở Hà Nội rất nhiều mối lo về sức khỏe – thứ mà có tiền cũng không mua được. Tôi muốn về quê sống. 

Tôi gặp một anh có cơ hội ở lại nước Nhật nhưng đã chọn về Việt Nam sinh sống ở quê cùng bố mẹ. Anh nói “việc ở gần với bố mẹ và trò chuyện được mỗi ngày là một niềm hạnh phúc lớn”, và “anh đã cảm nhận được nhiều niềm vui tuyệt vời”. Câu chuyện của anh giúp tôi thêm vững tin về quyết định về quê và ở gần bố mẹ. 

Đầu năm 2018, tôi rời phố về quê. Khi về quê sống, tôi biết đến các anh chị em khác đang làm vườn, được nhận những lời chia sẻ bổ ích giúp tôi củng cố lựa chọn sống ở quê. Rồi tôi tâm sự với bố mẹ để thuyết phục các cụ đồng ý việc tôi về quê sống. Tôi cứ thủ thỉ: “Con muốn sống gần bố mẹ”. “Con muốn trồng nhiều cây ăn trái trong vườn nhà mình để cho con cháu sau này hưởng”. “Con sẽ tự chủ được kinh tế nên bố mẹ yên tâm”. Bố mẹ nghe xuôi xuôi, đồng ý việc tôi về quê dù vẫn hơi lo lắng. 

Thời gian đầu tôi dành để quan sát vườn, đọc sách, nấu ăn. Rồi tôi cấy lúa, nuôi gà, gieo rau, gieo đậu. Tôi học thêm các kỹ năng làm vườn, trồng cây. Loại trái cây nào mà người thân thích ăn là tôi mua hoặc xin hạt về trồng: mít, ổi, na, nhãn, xoài, cóc, vải, chuối, đu đủ… Tôi có nhiều kỷ niệm với khu vườn của một gia đình trong xóm. Bọn trẻ con chúng tôi hồi đó mê khu vườn đầy cây trái ấy lắm. Tôi mong để lại cho con cháu mình một khu vườn như vậy. Tôi kết nối với các anh chị em làm vườn rừng ở miền Bắc, hiểu hơn về mô hình và vững tin hơn. Đầu năm 2019, tôi có người bạn đời đồng hành. Chúng tôi cùng hướng tới khu vườn rừng.

Khu vườn nhà khoảng 1.500m2, với mảnh ruộng 5 sào Bắc Bộ liền kề vườn sau và ao cá trước nhà rất thuận lợi cho việc tự cung tự cấp. Ruộng lúa sau nhà thuận tiện cho việc trồng theo phương pháp lúa – vịt. Hai bố con tôi đã thực hành canh tác lúa – vịt được hơn một năm rồi.

Mẹ tôi có nghề đan cói từ hồi còn trẻ, nhưng đã bỏ nghề một thời gian dài. Sau hơn một năm tôi về quê, đến nay khu vườn đòi hỏi ít thời gian hơn, tôi thuyết phục mẹ đan lại, tôi chịu trách nhiệm bán hàng.

Thu nhập chính của gia đình tôi hiện nay đến từ “nghề phụ” – các sản phẩm từ cói như túi cói, thảm cói… Sản phẩm từ vườn hầu hết dành cho việc phục vụ nhu cầu gia đình, phần dư ra gửi đi cho các anh chị em trong gia đình. Hiện tại, nhà tôi rất ít khi phải đi chợ. Thực phẩm tự cung tự cấp đến 80-90%: lúa, gạo, rau, quả, cá, gà, vịt, ngan, ngỗng, trứng, mắm cá, mắm chua… Cuộc sống thật đủ đầy!  

Sân phơi các sản phẩm cói của nhà Dân.

————————

Họ đã từ-phố-về-quê như thế.

Họ có thể là bất cứ ai, độc thân hay đã lập gia đình, có con cái hay không. Họ có thể đến từ bất cứ nơi nào. Họ có thể sở hữu đất đai hay ở nhà cha mẹ, hoặc ở nhờ đất của người khác. Họ có thể lựa chọn làm bất cứ việc gì ở nông thôn: nhuộm vải hay trồng rau, bán đồ cói tự đan hay làm bánh, bán xôi ở chợ địa phương, làm công nhật hay làm thìa gỗ…  Đó không phải là chuyện chuyển dịch chỗ ở hay thay đổi công việc, mà là sự lựa chọn một lối sống khác – lối sống tối giản, tự cấp tự túc tối đa. Một lối sống “nhẹ gánh” cho chính họ và “nhẹ nợ” hơn cho hành tinh này.

Trong những ngày này, khi dịch viêm phổi Vũ Hán hoành hành ở Trung Quốc và lan ra trên toàn thế giới, chúng ta ai cũng đặt ra những câu hỏi về sự an nguy của chính mình, của gia đình và xã hội. Và không chỉ các câu hỏi về bệnh dịch và thuốc chữa trị, hẳn sẽ có những câu hỏi về lựa chọn lối sống của mỗi cá nhân. Ta chọn hướng nào? Chọn nền kinh tế toàn cầu hay địa phương? Chọn những đại đô thị triệu dân với lực lượng người tiêu dùng đông đảo – một thị trường tiêu thụ lớn, nhưng phụ thuộc hoàn toàn nguồn lực từ bên ngoài hay những cộng đồng nhỏ tự cấp tự túc của những người sản xuất? Chọn thay đổi chính mình hay trông chờ sự đổi thay từ bên ngoài? 

Ông Bill Mollison, cha đẻ khái niệm Permaculture (*), từng nói: “Sự thay đổi lớn lao nhất mà chúng ta cần thực hiện là chuyển từ tiêu thụ sang sản xuất, thậm chí chỉ ở quy mô nhỏ, trong chính khu vườn của mình. Nếu chỉ 10% chúng ta làm thế thì đã đủ cho tất cả mọi người rồi”. 

Ta có dám chọn sự thay đổi ấy? Hay ít nhất, tôn trọng và ủng hộ những người chọn sự thay đổi ấy? 

(*): Nông nghiệp trường tồn (permanent agriculture) là sự thiết kế và duy trì hệ sinh thái sản xuất nông nghiệp có sự đa dạng, ổn định và khả năng phục hồi giống hệ sinh thái tự nhiên. Đó là một hệ thống tích hợp hài hòa giữa cảnh quan và con người nhằm cung cấp thực phẩm, năng lượng, nơi trú ẩn và những nhu cầu vật chất cũng như phi vật chất cho một lối sống bền vững của con người.■

Những câu hỏi khác:
Đọc mấy chuyện này thấy địa đàng trần gian quá? Họ có gặp thử thách, có bị tổn thương không?
– Vô vàn! Thách thức đến từ chính họ: ngưỡng đủ của mình ở đâu? Năng lực của mình tới đâu? Thách thức đến từ gia đình, hàng xóm, bạn bè, xã hội; đến từ đất đai nghèo kiệt, ô nhiễm; đến từ hệ sinh thái kiệt quệ. Họ chọn con đường khó đi và ít người đi được.
Liệu họ sống như thế được bao lâu?
– Tôi không biết. Nhưng tôi biết những người biết lấy ngắn nuôi dài thường đi được xa. Bạn thấy đấy, họ đều có sự chuẩn bị, từ thu nhập ngắn hạn đến các kỹ năng để chuẩn bị cho hành trình của mình!
Họ có đông không?
– Tôi không biết. Bạn có thể thấy dòng chảy, nhưng bạn khó mà biết được có bao nhiêu khe nước đã và sẽ làm nên dòng chảy đó.
(Mai Thị Thúy Hằng, người sáng lập Xanhshop – đơn vị dịch và xuất bản cuốn sách Cuộc cách mạng một cọng rơm)

Theo báo cuoituan.tuoitre.vn

Ý kiến của bạn

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top